Ngoại tình có thể bị xử phạt theo pháp luật Việt Nam, tùy theo mức độ và hậu quả của hành vi theo điểm c khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014:
Điều 5. Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình
2. Cấm các hành vi sau đây:
c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;
Lưu ý: Pháp luật không xử phạt việc quan hệ tình dục đơn lẻ, mà xử lý khi có dấu hiệu “chung sống như vợ chồng” hoặc gây hậu quả pháp lý nghiêm trọng.
Bên cạnh đó, ngoại tình còn bị xử phạt hành chính theo khoản 1 Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP:
Điều 59. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng:
1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
Không chỉ vậy, nặng hơn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 182 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng
1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;
b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
Trên đây là bài viết giải đáp thắc mắc của công ty Luật PLTT Hà Nội, chúng tôi mong có thể giúp đỡ cho người đọc.