1. Thực trạng áp dụng quy định tuổi kết hôn hiện nay
Mặc dù quy định về tuổi kết hôn trong pháp luật HN&GĐ được xây dựng dựa trên những cơ sở khoa học và thực tiễn vô cùng hợp lí và phù hợp. Tuy nhiên, vấn đề áp dụng quy định về độ tuổi kết hôn của pháp luật Việt Nam hiện nay vẫn gặp phải những khó khăn nhất định, cụ thể như sau:
Thứ nhất, bất cập do sự khác biệt giữa quy định của pháp luật và tập quán về tuổi kết hôn. Ở một số các tỉnh phía Tây Bắc, Tây Nguyên, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La…có phong tục kết hôn sớm do tập quán và văn hóa vùng miền, độ tuổi kết hôn thường giao động từ 15 đến 19 tuổi. Hơn nữa, do trình độ nhận thức của một số phận đồng bào miền núi còn hạn chế, mặt bằng chung công tác giáo dục chưa được cải thiện dẫn tới việc thiếu hiểu biết pháp luật về chấp hành các quy định về độ tuổi kết hôn. Vì vậy, cùng với quy định về tuổi kết hôn, Nhà nước cần tăng cường công tác giáo dục, phổ biến pháp luật đến cộng đồng dân cư khu vùng sâu vùng xa, đồng thời thi hành nghiêm túc các biện pháp xử phạt để tiến tới xóa bỏ hoàn toàn tình trạng tảo hôn.
Thứ hai, chế tài xử phạt với nạn tảo hôn chưa đủ tính răn đe.
Theo Điều 58 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã có quy định
“Điều 58. Hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn
1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn.
2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn mặc dù đã có bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án”.
Như vậy chế tài xử phạt đối với các trường hợp vi phạm điều kiện kết hôn còn quá nhẹ, chưa tạo ra được tính răn đe. Nhiều gia đình sẵn sàng chấp nhận bị phạt để tổ chức cưới tảo hôn cho con, nhất là trong trường hợp cô gái đã có thai. Hơn nữa, ở một số vùng dân tộc thiểu số, việc thực hiện chế tài tiền phạt rất khó khăn vì đa số đều là hộ nghèo. Do vậy chính quyền địa phương cũng khó mà cưỡng chế. Ngoài ra, ở cơ sở, cán bộ xã hay những những cán bộ, đảng viên là lãnh đạo xã dù biết là vi phạm nhưng vẫn làm ngơ, tạo điều kiện cho tảo hôn tồn tại. Vì vậy tình trạng tảo hôn vẫn tiếp tục tái diễn, chưa được ngăn chặn triệt để.
2. Kiến nghị để hạn chế tình trạng
Thứ nhất, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về hôn nhân và gia đình liên quan đến tảo hôn. Nếu không có nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng và không thực hiện công tác này thì các quy định của pháp luật cũng không thể được thực hiện một cách có hiệu quả. Để hạn chế, tiến tới xóa bỏ hoàn toàn tảo hôn, trước tiên cần tuyên truyền cho người dân hiểu được hậu quả của tảo hôn sẽ ảnh hưởng đến cá nhân và cộng đồng. Có thể đến phổ biến trực tiếp, hoặc qua các phương tiện thông tin đại chúng hay lồng ghép vào hoạt động giáo dục trong nhà trường. Tuy nhiên, đối với các vùng tập trung nhiều đồng bào dân tộc thiểu số cần có những biện pháp khác như tuyên truyền qua các người có uy tín trong cộng đồng như già làng, trưởng bản…sẽ dễ dàng hơn trong công tác tuyên truyền. Bên cạnh đó, chính quyền các cấp cũng cần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực hôn nhân gia đình nói chung và trong phát hiện, xử lý nạn tảo hôn nói riêng. Cả cán bộ và nhân dân đều phải có nhận thức đầy đủ thì pháp luật đưa vào thực tế mới có hiệu quả được.
Thứ hai, cần có chế tài xử phạt đối với hành vi tảo hôn và tổ chức tảo hôn tăng tính răn đe hơn, tăng sự uy nghiêm của Nhà nước trong vấn đề xử phạt vi phạm điều kiện kết hôn. Có thể tăng mức xử phạt lên mức cao hơn, mục đích là đánh vào kinh tế cá nhân, gia đình người vi phạm. Đối với những gia đình khó khăn, không có điều kiện về kinh tế biết được mức xử phạt cao như vậy sẽ không thực hiện các hành vi vi phạm và chấp hành nghiêm chỉnh hơn.
Thứ ba, cần có những biện pháp xử lý nghiêm đối với trường hợp cán bộ, công chức mặc dù biết có hành vi tảo hôn nhưng không tiến hành xử phạt, tiếp tay cho các đối tượng vi phạm, tiến hành đăng ký kết hôn cho các trường hợp vi phạm. Ngoài ra, cần tăng cường các kỳ công tác rà soát, quản lý hộ tịch để phát hiện những trường hợp tảo hôn, không để xảy ra các trường hợp chung sống như vợ chồng trái pháp luật, đến khi đủ điều kiện kết hôn mới tiến hành đăng ký kết hôn.
Thứ tư, đưa nội dung ngăn ngừa, xóa bỏ tảo hôn và hôn nhân cận huyết vào hương ước, quy ước ở địa phương. Đa số tình trạng tảo hôn thường diễn ra ở các vùng đồng bằng dân tộc thiểu số, nơi chịu ảnh hưởng sâu sắc của phong tục, tập quán tại làng, bản, xã. Họ đã quen với những quy tắc xử sự lâu đời được xây dựng từ chính những người trong cộng đồng làng bản của họ. Vì vậy nên cần sửa đổi hương ước, quy ước của một số địa phương sao cho phù hợp với nội dung phòng ngừa, ngăn chặn tảo hôn. Do vậy, cơ quan Nhà nước có thể yêu cầu các địa phương sửa đổi, bổ sung nội dung về tảo hôn vào trong hương ước, trước mắt là để thay đổi tư tưởng của người dân, sau đó sẽ hình thành thói quen, nếp sống của họ.
Đọc thêm bài viết: Quy định của pháp luật hiện hành về tuổi kết hôn