Tư vấn

Kinh tế - Tài chính

nghĩa vụ của bên yêu cầu bồi thường thiệt hại trong hoạt động thương mại
nghĩa vụ của bên yêu cầu bồi thường thiệt hại trong hoạt động thương mại
Trong hoạt động thương mại, khi một chủ thể vi phạm nghĩa vụ mà gây tổn hại cho chủ thể khác thì chủ thể đó phải chịu sự bất lợi do hành vi vi phạm của mình gây ra.

Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Theo quy định tại Điều 303 Luật Thương mại 2005 (”LTM”), trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây:

Thứ nhất, có hành vi vi phạm hợp đồng: Là một loại trách nhiệm pháp lý nên trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong thương mại chỉ xuất hiện khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng và chỉ áp dụng đối với chủ thể thực hiện hành vi vi phạm. Hành vi vi phạm hợp đồng có thể là hành vi từ chối thực hiện nghĩa vụ, chậm thực hiện nghĩa vụ, thực hiện một phần nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

Thứ hai, có thiệt hại thực tế: Thiệt hại được xem là yếu tố bắt buộc và là tiền đề để quyết định có phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại hay không. Thiệt hại trong hợp đồng thương mại thường được hiểu là thiệt hại về vật chất.

Thứ ba, hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại: Hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra phải có mối quan hệ nhân quả, trong đó hành vi vi phạm phải là nguyên nhân gây ra hậu quả là có tổn thất trên thực tế.

Như vậy trừ trường hợp đặc biệt, chế tài bồi thường thiệt hại trong Luật Thương mại sẽ phát sinh dù không tồn tại thỏa thuận giữa các bên khi hội tụ đủ các yếu tố: “có hành vi vi phạm hợp đồng, có thiệt hại thực tế và có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại xảy ra”. Việc quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhằm hạn chế việc bên yêu cầu bồi thường lợi dụng hành vi vi phạm của một bên để thu lợi riêng, ngoài ra LTM cũng quy định nghĩa vụ của bên yêu cầu bồi thường như:

Chứng minh tổn thất

Theo Điều 304 LTM, nghĩa vụ chứng minh tổn thất được quy định như sau:

“Bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải chứng minh tổn thất, mức độ tổn thất do hành vi vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.”

Như vậy bên yêu cầu bồi thường thiệt hại có nghĩa vụ phải chứng minh một cách hợp lý, mức độ tổn thất do hành vi vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không bị vi phạm hợp đồng. Đồng thời phải chứng minh cả mức độ thiệt hại để làm cơ sở yêu cầu bồi thường, nếu không chứng minh được thì coi như không có thiệt hại. Tuy nhiên trên thực tế, việc xác định và chứng minh khoản lợi mất hưởng thường mang tính chất tương đối và việc xác định chính xác cũng rất khó khăn, đặc biệt là với những thiệt hại vô hình, trừu tượng.

Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Theo quy định tại Điều 303 Luật Thương mại 2005 (”LTM”), trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây:

Thứ nhất, có hành vi vi phạm hợp đồng: Là một loại trách nhiệm pháp lý nên trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong thương mại chỉ xuất hiện khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng và chỉ áp dụng đối với chủ thể thực hiện hành vi vi phạm. Hành vi vi phạm hợp đồng có thể là hành vi từ chối thực hiện nghĩa vụ, chậm thực hiện nghĩa vụ, thực hiện một phần nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

Thứ hai, có thiệt hại thực tế: Thiệt hại được xem là yếu tố bắt buộc và là tiền đề để quyết định có phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại hay không. Thiệt hại trong hợp đồng thương mại thường được hiểu là thiệt hại về vật chất.

Thứ ba, hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại: Hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra phải có mối quan hệ nhân quả, trong đó hành vi vi phạm phải là nguyên nhân gây ra hậu quả là có tổn thất trên thực tế.

Như vậy trừ trường hợp đặc biệt, chế tài bồi thường thiệt hại trong Luật Thương mại sẽ phát sinh dù không tồn tại thỏa thuận giữa các bên khi hội tụ đủ các yếu tố: “có hành vi vi phạm hợp đồng, có thiệt hại thực tế và có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại xảy ra”. Việc quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhằm hạn chế việc bên yêu cầu bồi thường lợi dụng hành vi vi phạm của một bên để thu lợi riêng, ngoài ra LTM cũng quy định nghĩa vụ của bên yêu cầu bồi thường như:

Chứng minh tổn thất

Theo Điều 304 LTM, nghĩa vụ chứng minh tổn thất được quy định như sau:

“Bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải chứng minh tổn thất, mức độ tổn thất do hành vi vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.”

Như vậy bên yêu cầu bồi thường thiệt hại có nghĩa vụ phải chứng minh một cách hợp lý, mức độ tổn thất do hành vi vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không bị vi phạm hợp đồng. Đồng thời phải chứng minh cả mức độ thiệt hại để làm cơ sở yêu cầu bồi thường, nếu không chứng minh được thì coi như không có thiệt hại. Tuy nhiên trên thực tế, việc xác định và chứng minh khoản lợi mất hưởng thường mang tính chất tương đối và việc xác định chính xác cũng rất khó khăn, đặc biệt là với những thiệt hại vô hình, trừu tượng.

Nghĩa vụ hạn chế tổn thất

Theo Điều 305 LTM, nghĩa vụ hạn chế tổn thất được quy định như sau:

“Bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất kể cả tổn thất đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra; nếu bên yêu cầu bồi thường thiệt hại không áp dụng các biện pháp đó, bên vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu giảm bớt giá trị bồi thường thiệt hại bằng mức tổn thất đáng lẽ có thể hạn chế được.”

Việc người bị thiệt hại không áp dụng những biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn ngừa, hạn chế tổn thất có thể hiểu là người bị thiệt hại đã để cho thiệt hại trở nên trầm trọng hơn, không làm gì để giảm bớt hoặc hạn chế tổn thất phát sinh. Quy định này nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất các thiệt hại thực tế có thể xảy ra cho bên bị vi phạm, đồng thời tránh trường hợp bên bị vi phạm lợi dụng việc vi phạm hợp đồng làm cho thiệt hại lớn hơn so với mức độ hành vi vi phạm. Nếu bên yêu cầu bồi thường không áp dụng các biện pháp cần thiết để ngăn chặn thiệt hại thì bên yêu cầu bồi thường cũng phải gánh chịu một phần thiệt hại xảy ra. Như vậy, mặc dù trong quan hệ bồi thường thiệt hại bên bị vi phạm được xem là bên có quyền, trong đó bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm bồi thường các tổn thất thực tế phát sinh và cả khoản lợi ích đáng lẽ mình được hưởng nếu không có hành vi vi phạm, tuy nhiên trên thực tế việc bồi thường thiệt hại đòi hỏi rất nhiều chứng cứ chứng minh từ bên bị vi phạm, theo đó bên bị vi phạm phải có nghĩa vụ chứng minh tổn thất và hạn chế tổn thất xảy ra, quy định này nhằm loại bỏ các trường hợp bên bị vi phạm lợi dụng việc vi phạm để đòi bồi thường vô căn cứ hoặc đòi khoản bồi thường vượt quá giá trị thiệt hại thực tế.

Theo Điều 305 LTM, nghĩa vụ hạn chế tổn thất được quy định như sau:

“Bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất kể cả tổn thất đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra; nếu bên yêu cầu bồi thường thiệt hại không áp dụng các biện pháp đó, bên vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu giảm bớt giá trị bồi thường thiệt hại bằng mức tổn thất đáng lẽ có thể hạn chế được.”

Việc người bị thiệt hại không áp dụng những biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn ngừa, hạn chế tổn thất có thể hiểu là người bị thiệt hại đã để cho thiệt hại trở nên trầm trọng hơn, không làm gì để giảm bớt hoặc hạn chế tổn thất phát sinh. Quy định này nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất các thiệt hại thực tế có thể xảy ra cho bên bị vi phạm, đồng thời tránh trường hợp bên bị vi phạm lợi dụng việc vi phạm hợp đồng làm cho thiệt hại lớn hơn so với mức độ hành vi vi phạm. Nếu bên yêu cầu bồi thường không áp dụng các biện pháp cần thiết để ngăn chặn thiệt hại thì bên yêu cầu bồi thường cũng phải gánh chịu một phần thiệt hại xảy ra. Như vậy, mặc dù trong quan hệ bồi thường thiệt hại bên bị vi phạm được xem là bên có quyền, trong đó bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm bồi thường các tổn thất thực tế phát sinh và cả khoản lợi ích đáng lẽ mình được hưởng nếu không có hành vi vi phạm, tuy nhiên trên thực tế việc bồi thường thiệt hại đòi hỏi rất nhiều chứng cứ chứng minh từ bên bị vi phạm, theo đó bên bị vi phạm phải có nghĩa vụ chứng minh tổn thất và hạn chế tổn thất xảy ra, quy định này nhằm loại bỏ các trường hợp bên bị vi phạm lợi dụng việc vi phạm để đòi bồi thường vô căn cứ hoặc đòi khoản bồi thường vượt quá giá trị thiệt hại thực tế

theo luat minh khue

ĐỌC THÊM

Thuế môn bài 1 năm đóng mấy lần? Mức đóng năm 2024

Thuế môn bài (lệ phí môn bài) là lệ phí quen thuộc nhưng không phải ai cũng biết thuế môn bài 1 năm đóng mấy lần hay các bậc thuế, mức thuế... Tham khảo bài viết sau để nắm được vấn đề.

Khi tiền gửi 'bốc hơi': Vì sao ngân hàng không muốn làm nạn nhân?

Những vụ tiền gửi 'bốc hơi' thì về đạo lý và pháp lý, cần xác định ngân hàng là bị hại; người chiếm đoạt phải bồi thường cho ngân hàng, còn ngân hàng sẽ phải bồi thường lại cho khách hàng bị mất tiền

Thu nhập ròng là gì? Cách tính thu nhập ròng

Thu nhập ròng là khái niệm quan trọng trong kinh doanh và sản xuất của một doanh nghiệp. Vậy thu nhập ròng là gì và ý nghĩa của thu nhập ròng là như thế nào?

Danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu mới nhất 2024?

Các loại hàng cấm nhập khẩu vào Việt Nam được quy định tại Mục II Phụ lục I Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, nhập khẩu ban hành kèm theo Nghị định 69/2018/NĐ-CP gồm:

Quyền hạn và nghĩa vụ của bên đại lý và bên giao đại lý được quy định như thế nào?

Có thể cho tôi biết hiện nay có những hình thức đại lý nào không? Quyền và nghĩa vụ của bên đại lý, bên giao đại lý theo quy định là gì?

Hợp đồng thương mại là gì? Mức lãi suất chậm thanh toán trong hợp đồng thương mại được quy định như thế nào?

Hợp đồng thương mại là gì? Mức lãi suất chậm thanh toán trong hợp đồng thương mại được quy định như thế nào?

Ngoại thương là gì? Các chính sách ngoại thương theo luật định

Hiện nay, ngoại thương đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế trong thời kỳ hội nhập toàn cầu.

Bộ Tài chính nói gì về nợ thuế và hoàn thuế thu nhập cá nhân?

Cá nhân có hơn 1 nguồn thu nhập phải tự quyết toán thuế (QTT) với cơ quan thuế (CQT)

Các loại hình đại lý thương mại

Trong sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động mua bán hàng hóa với quy mô lớn dẫn đến các phương thức giao dịch trực tiếp đã bộc lộ những hạn chế nhất định, đặc biệt là tiêu tốn nhiều chi phí và thời gian

Điều khoản “Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do chậm trễ” trong hợp đồng xây dựng quốc tế

Điều khoản “miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do chậm trễ” là một công cụ pháp lý thường được sử dụng trong các hợp đồng xây dựng quốc tế.