Quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán
Theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại 2005, quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán được xác định như sau:
- Về chủ thể: Chủ thể có quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán được xác định là bên bị vi phạm hợp đồng. Trường hợp bên bị vi phạm ủy quyền cho cá nhân, tổ chức khác thay mình thực hiện quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán thì lúc này cá nhân, tổ chức đó sẽ được xác định là chủ thể của quyền này.
- Về căn cứ phát sinh: Bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hoặc chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác do bên bị vi phạm. Chậm thanh toán tiền hàng, thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác được hiểu là bên vi phạm đã không thực hiện việc thanh toán theo như đúng thời hạn mà các bên đã thỏa thuận trước đó trong hợp đồng.
Như vậy, bên bị vi phạm hợp đồng do hành vi chậm thanh toán tiền hàng hoặc chậm thanh toán tiền dịch vụ, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu tiền lãi chậm trả.
Trong hợp đồng kinh tế, lãi chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán tính như thế nào?
Căn cứ Điều 306 Luật Thương mại 2005, lãi chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán được xác định như sau: Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Căn cứ Điều 11 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, lãi suất trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán được Tòa án xác định dựa trên mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường của ít nhất 03 (ba) ngân hàng thương mại (Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam,…) có trụ sở, chi nhánh hoặc phòng giao dịch tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Tòa án đang giải quyết, xét xử có trụ sở tại thời điểm thanh toán (thời điểm xét xử sơ thẩm), trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Như vậy, số tiền phải trả sẽ được tính theo công thức:
Lãi chậm trả = Số tiền chậm thực hiện nghĩa vụ x Thời gian chậm trả x Lãi suất chậm trả.
Các trường hợp được miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm
Căn cứ Điều 294 Luật Thương mại 2005, bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong các trường hợp sau đây:
- Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận;
- Xảy ra sự kiện bất khả kháng;
- Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia;
- Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.
Lưu ý: Bên vi phạm hợp đồng có nghĩa vụ chứng minh các trường hợp miễn trách nhiệm.
Như vậy, nếu bên vi phạm chứng minh được trường hợp vi phạm hợp đồng của mình thuộc một trong những trường hợp miễn trách được nêu trên thì sẽ được miễn trách nhiệm.