Theo khoản 4 Điều 21 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP, thời hạn nộp tiền sử dụng đất và khoản tiền người nộp thuế phải nộp bổ sung được quy định theo từng trường hợp cụ thể. Chậm nhất là ba mươi ngày kể từ ngày ban hành thông báo nộp tiền, người nộp thuế phải nộp năm mươi phần trăm tổng số tiền phải nộp theo thông báo. Chậm nhất là chín mươi ngày kể từ ngày ban hành thông báo nộp tiền, người nộp thuế phải nộp năm mươi phần trăm tổng số tiền phải nộp còn lại theo thông báo. Trong trường hợp xác định lại số tiền sử dụng đất phải nộp quá thời hạn năm năm kể từ ngày có quyết định giao đất tái định cư mà hộ gia đình, cá nhân chưa nộp đủ số tiền sử dụng đất còn nợ, người nộp thuế phải nộp một trăm phần trăm tổng số tiền phải nộp theo thông báo chậm nhất là ba mươi ngày kể từ ngày ban hành thông báo. Đối với thông báo nộp tiền sử dụng đất điều chỉnh, bổ sung, người nộp thuế phải nộp một trăm phần trăm số tiền phải nộp chênh lệch tăng theo thông báo chậm nhất là ba mươi ngày kể từ ngày ban hành thông báo điều chỉnh, bổ sung. Trường hợp giao đất thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, thời hạn nộp tiền là thời hạn ghi trên quyết định phê duyệt kết quả trúng đấu giá của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Trước khi người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ nộp tiền, cơ quan thuế phải ban hành thông báo trong thời hạn quy định tại điểm b khoản 2 Điều 17 Nghị định 252/2026/NĐ-CP. Chậm nhất là bảy ngày làm việc kể từ ngày nhận được phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai, cơ quan thuế ban hành thông báo nộp tiền sử dụng đất và khoản phải nộp bổ sung đối với tổ chức, cá nhân là người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài. Đối với hộ gia đình, cá nhân trừ cá nhân là người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, thời hạn này là năm ngày làm việc. Thời hạn năm ngày làm việc cũng áp dụng đối với tiền thuê đất và khoản phải nộp bổ sung. Đối với thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản, từ nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản, lệ phí trước bạ nhà, đất, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thời hạn ban hành thông báo là ba ngày làm việc. Trường hợp phải xác định các khoản mà người nộp thuế được trừ vào tiền thuê đất, tiền sử dụng đất phải nộp, cơ quan thuế ban hành thông báo chậm nhất là bảy ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản xác định các khoản được trừ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định các khoản được trừ và gửi cơ quan thuế chậm nhất là năm ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ do Văn phòng đăng ký đất đai hoặc cơ quan có chức năng quản lý đất đai hoặc bộ phận một cửa liên thông chuyển đến. Đối với trường hợp thuê đất trả tiền hằng năm, cơ quan thuế ban hành thông báo nộp tiền thuê đất chậm nhất là ngày ba mươi tháng tư hằng năm và gửi cho người nộp thuế.
Về thẩm quyền xóa nợ tiền sử dụng đất, điểm a khoản 4 Điều 39 Nghị định 252/2026/NĐ-CP quy định Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định xóa các khoản nợ phát sinh trên địa bàn, bao gồm tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tiền sử dụng khu vực biển, tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, tiền thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và tiền chậm nộp phát sinh từ các khoản nợ nêu trên đối với các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 21 Luật Quản lý thuế. Như vậy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định xóa khoản nợ tiền sử dụng đất phát sinh trên địa bàn.
Các quy định trên nhằm bảo đảm người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ tài chính đúng thời hạn và cơ quan thuế thực hiện việc ban hành thông báo, xử lý nợ theo đúng thẩm quyền.
Nguồn: https://luatvietnam.vn/dat-dai/nhan-thong-bao-nop-tien-su-dung-dat-thi-phai-nop-trong-bao-lau-653-114472-article.html