Tư vấn

Dân sự

Một số vấn đề pháp lý về thực hiện thay nghĩa vụ cho người khác
Một số vấn đề pháp lý về thực hiện thay nghĩa vụ cho người khác
Trong thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự hiện nay phát sinh nhiều trường hợp một bên thực hiện thay nghĩa vụ cho bên có nghĩa vụ, tuy nhiên về quan điểm giải quyết còn có một số vấn đề về nhận thức

1. Trường hợp ủy quyền cho người khác thực hiện nghĩa vụ

Điều 283 của BLDS 2015 quy định: “Khi được bên có quyền đồng ý, bên có nghĩa vụ có thể ủy quyền cho người thứ ba thay mình thưc hiện nghĩa vụ nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm với bên có quyền, nếu người thứ ba không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”.

Đây cũng là một giao dịch dân sự phát sinh giữa ba bên, bao gồm bên có nghĩa vụ, bên có quyền, bên được ủy quyền thực hiện nghĩa vụ. Điều kiện để đảm bảo giao dịch có hiệu lực đó là phải đảm bảo sự tự do giao kết và định đoạt của tất cả các bên. Giá trị pháp lý của thỏa thuận này khác với trường hợp chuyển giao nghĩa vụ, cụ thể là bên có nghĩa vụ không chấm dứt nghĩa vụ, bên có quyền có thể yêu cầu bên được ủy quyền thực hiện nghĩa vụ, tuy nhiên bên được ủy quyền không có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện và khi bên được ủy quyền không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đủ thì bên có quyền phải yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện.

2. Trường hợp chuyển giao nghĩa vụ

Điều 370 của BLDS năm 2015 quy định:

“1. Bên có nghĩa vụ có thể chuyển giao nghĩa vụ cho người thế nghĩa vụ nếu được bên có quyền đồng ý, trừ trường hợp nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của bên có nghĩa vụ hoặc pháp luật có quy định không được chuyển giao nghĩa vụ;

2. Khi được chuyển giao nghĩa vụ thì người thế nghĩa vụ trở thành bên có nghĩa vụ.”

Đây là trường hợp ba bên tham gia vào thỏa thuận thực hiện nghĩa vụ, bao gồm bên có nghĩa vụ, bên có quyền và bên thế nghĩa vụ, trong đó bên có nghĩa vụ chuyển giao một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ mà mình phải thực hiện đối với bên có quyền cho bên thế nghĩa vụ. Bản chất pháp lý đây là một giao dịch dân sự, điều kiện để giao dịch chuyển giao nghĩa vụ có hiệu lực đó là phải được bên có quyền đồng ý và nghĩa vụ đó không được gắn liền với nhân thân hoặc pháp luật không cho phép chuyển giao. Pháp luật dân sự không quy định về hình thức của giao dịch nên có thể xác lập bằng lời nói hoặc bằng hợp đồng. Trong trường hợp này thì bên có nghĩa vụ chấm dứt nghĩa vụ đối với bên có quyền và bên thế nghĩa vụ trở thành bên có nghĩa vụ phải thực hiện khi giao dịch phát sinh hiệu lực.

Có quan điểm cho rằng việc chuyển giao nghĩa vụ chỉ cần bên thế nghĩa vụ và có quyền đồng ý, không cần sự đồng ý chuyển giao của bên có nghĩa vụ. Theo chúng tôi điều này là không chính xác. Điều luật quy định về việc chuyển giao nghĩa vụ nhằm điều chỉnh việc chuyển giao nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ để bên thế nghĩa vụ thực hiện thay cho mình vì lý do không thể thực hiện. Do đó, trong quan hệ pháp luật này, trước hết phải phát sinh nhu cầu chuyển giao nghĩa vụ và ý chí định đoạt của bên có nghĩa vụ, sau đó mới đến sự chấp thuận của bên có quyền và bên thế nghĩa vụ.

Trong thực tiễn, có thể phát sinh trường hợp xác lập thỏa thuận chuyển giao nghĩa vụ giữa người có nghĩa vụ và người thế nghĩa vụ, chưa có sự đồng ý của bên có quyền, sau đó bên có quyền biết và đồng ý với việc chuyển giao nghĩa vụ này thì theo chúng tôi việc chuyển giao nghĩa vụ vẫn có hiệu lực pháp luật.

3. Trường hợp thực hiện nghĩa vụ liên đới

Điều 288 của BLDS 2015 quy định:

“1. Nghĩa vụ liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.

2. Trường hợp một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với mình.

3. Trường hợp bên có quyền đã chỉ định một trong số những người có nghĩa vụ liên đới thực hiện toàn bộ nghĩa vụ, nhưng sau đó lại miễn cho người đó thì những người còn lại cũng được miễn thực hiện nghĩa vụ.

4. Trường hợp bên có quyền chỉ miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho một trong số những người có nghĩa vụ liên đới không phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình thì những người còn lại vẫn phải liên đới thực hiện phần nghĩa vụ của họ.”

Là trường hợp nhiều người cùng phải thực hiện nghĩa vụ, là nghĩa vụ chung của nhiều người, có thể chia theo phần nhưng không được chia thành các phần riêng lẻ. Một hoặc nhiều người có nghĩa vụ có thể thực hiện toàn bộ nghĩa vụ. Bên có quyền có thể yêu cầu một trong những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ và người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ có quyền yêu cầu những người khác phải thực hiện lại phần nghĩa vụ của họ đối với mình. Việc chia theo phần dựa trên mức độ lỗi khi gây thiệt hại hoặc mức độ thụ hưởng…

Trong thực tiễn giải quyết giải quyết tranh chấp, có trường hợp khi bản án xác định nghĩa vụ liên đới của nhiều người và chia theo phần để thực hiện, có trường hợp bản án chỉ xác định nghĩa vụ liên đới nhưng không chia theo phần để từng người phải thực hiện. Việc không chia theo phần có thể dẫn đến những người có nghĩa vụ liên đới tranh chấp với nhau đối với phần nghĩa vụ.

Đồng thời, khi người có quyền chỉ yêu cầu một trong những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì vấn đề về việc có đưa người có nghĩa vụ liên đới tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền và nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn còn có nhiều quan điểm khác nhau. Có trường hợp cho rằng phải đưa những người cùng có nghĩa vụ liên đới tham gia tố tụng và buộc họ phải thực hiện, bởi lẽ họ là những người cùng phải thực hiện nghĩa vụ và việc xác định nghĩa vụ phải thực hiện có liên quan đến quyền lợi của họ. Có trường hợp không đưa những người cùng có nghĩa vụ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền và nghĩa vụ liên quan và không buộc họ cùng phải thực hiện.

4. Trường hợp bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ

Điều 335 của BLDS 2015 quy định:

“1. Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

2. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.”

Đây là trường hợp một hoặc nhiều người cam kết với bên có quyền sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ. Nghĩa vụ bảo lãnh phải được xác định bằng giá trị là tiền hoặc công việc nhất định. Thời điểm phát sinh nghĩa vụ thực hiện thay nghĩa vụ tùy thuộc vào nội dung hợp thỏa thuận, pháp luật dân sự có quy định 02 trường hợp cụ thể:

Thứ nhất, trường hợp các bên thỏa thuận nghĩa vụ bảo lãnh phát sinh khi đến thời hạn nhưng người có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh phải thực hiện thay nghĩa vụ tại thời điểm quá hạn.

Thứ hai, trường hợp các bên thỏa thuận khi bên có nghĩa vụ không có khả năng thực hiện nghĩa vụ thì bên nhận bảo lãnh phải yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ và chỉ khi bên có nghĩa vụ hoàn toàn không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ thì bên bảo lãnh mới mức hiện thay nghĩa vụ.

Nghĩa vụ của bên bảo lãnh bao gồm thực hiện thay nghĩa vụ cho bên có nghĩa vụ, ngoài ra còn có thể phải thực hiện nghĩa vụ do vi phạm hợp đồng bảo lãnh bằng việc thanh toán giá trị nghĩa vụ, bồi thường thiệt hại. Trong trường hợp thực hiện nghĩa vụ do vi phạm hợp đồng bảo lãnh thì giá trị của nghĩa vụ này không được ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản đảm bảo của bên bảo lãnh (nếu có). Việc phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh của bên bảo lãnh không làm chấm dứt nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ đối với bên có quyền, điều này đồng nghĩa với việc bên có quyền có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ hoặc bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ với mình.

Bảo lãnh có biện pháp bảo đảm khác với trường hợp dùng tài sản của bên thứ ba để thế chấp, cầm cố đảm bảo thực hiện nghĩa vụ. Bảo lãnh là việc một người phải thực hiện thay nghĩa vụ cho người khác nếu xảy ra vi phạm, còn trường hợp dùng tài sản của bên thứ ba để cầm cố, thế chấp không phải là thực hiện thay nghĩa vụ mà là việc chỉ dùng chính tài sản đó để thực hiện nghĩa vụ.

Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp có một số trường hợp nhầm lẫn, sai sót như sau:

- Nhầm lẫn trong việc xác định người thực hiện nghĩa vụ: Mặc dù phát sinh quan hệ bảo lãnh giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh, tuy nhiên người có nghĩa vụ vẫn phải được xác định là người được bảo lãnh. Nghĩa vụ của bên bảo lãnh phải được hiểu là nghĩa vụ bảo lãnh và chỉ khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hoặc không có khả năng thực hiện thì bên bảo lãnh mới phải thực hiện thay nghĩa vụ đã bảo lãnh. Trên thực tiễn giải quyết có trường hợp xác định và buộc người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ mà lẽ ra phải xác định nghĩa vụ thuộc bên bên được bảo lãnh, bên bảo lãnh phải thực hiện thay nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ.

theo tap chi toa an nhan dan

ĐỌC THÊM

Giấy phép lái xe mờ ảnh có bị phạt?

Về vấn đề này, căn cứ Khoản 2 Điều 37 Thông tư 12/2017/TT-BGTVT quy định như sau: Người có giấy phép lái xe có thời hạn thực hiện việc đổi giấy phép lái xe trước khi hết thời hạn sử dụng và người có giấy...

Cho vay nợ nhưng không có giấy ghi nợ thì có đòi được không?

Việc giữ người quen cho vay tiền vì tin tưởng dẫn tới việc không có giấy ghi nợ diễn ra rất phổ biến. Vì thế, khi tranh chấp xảy ra, rất nhiều người lo lắng liệu có đòi lại được tiền hay không.

Lãi suất cho vay bao nhiêu là hợp pháp?

Lãi suất cho vay hợp pháp là câu hỏi thường gặp trong các giao dịch dân sự và hoạt động ngân hàng. Quy định về lãi suất được áp dụng theo Bộ luật Dân sự 2015 và pháp luật chuyên ngành về tín dụng

Cách xử lý giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối ? Thủ tục khởi kiện đòi lại tiền

Giao dịch dân sự vô hiệu có thể do nhiều nguyên nhân như: Mục đích hoặc nội dung của hợp đồng trái luật; Một bên che giấu thông tin dẫn đến việc thực hiện giao dịch không thành ...

Khi chuyển khoản nhầm thì người nhận tiền có nghĩa vụ hoàn trả số tiền đó không? Xử phạt hành chính đối với người nhận tiền không trả lại tiền khi được chuyển khoản nhầm?

Khi nhận được một khoản tiền bị chuyển nhầm, người chuyển yêu cầu hoàn trả, nhưng người nhận cố tình không trả thì phải làm thế nào, có biện pháp xử lý hay không?

Nhận lại tài sản bảo đảm quy định như thế nào?

Liên quan đến các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong dân sự theo quy định mới thì quy định ra sao về nhận lại tài sản bảo đảm?

Quy định về bên A và bên B trong hợp đồng

Tôi là chủ một của hàng nhỏ, thường xuyên ký hợp đồng để nhập hàng về bán. Tôi thấy trong hợp đồng có ghi bên A, bên B điều này có nghĩa là gì? Có phải người bán luôn là bên A không?

Cầm cố tài sản của người khác phạm tội gì?

Bà X. thuê nhà của người khác rồi dùng căn nhà này đem cầm cố, vay tiền, chiếm đoạt tài sản của nhiều người thì có vi phạm pháp luật không? Đây là giao dịch dân sự hay phạm tội hình sự?

Người hưởng dụng có quyền và nghĩa vụ gì theo quy định của pháp luật?

Quyền của người hưởng dụng được pháp luật quy định như thế nào? Người hưởng dụng có nghĩa vụ gì?

Hiệu lực của di chúc chung vợ chồng

Câu hỏi của chị Thùy Linh về một vấn đề tuy mới mà cũ của đời sống hằng ngày. "Di chúc vợ chồng" sẽ được Luật PLTT phân tích điểm qua một ví dụ cụ thể như sau:

Phân biệt hợp đồng vay tài sản và hợp đồng tín dụng

Chúng ta thường nghe nói đến hợp đồng vay tiền và hợp đồng tín dụng. Vậy đây có phải là hai khái niệm đồng nhất hay không?

Công ty có thể ủy quyền cho phép chi nhánh được ký kết hợp đồng thương mại với phía đối tác hay không?

Công ty tôi muốn ký một hợp đồng thương mại với một bên trong hợp đồng là chi nhánh của công ty đó. Tôi muốn hỏi công ty có thể ủy quyền cho người đứng đầu chi nhánh làm đại diện được không?

Hướng dẫn xác định khoảng cách an toàn về môi trường đối với khu dân cư

Bài viết sau có nội dung về xác định khoảng cách an toàn về môi trường đối với khu dân cư được quy định trong Nghị định 08/2022/NĐ-CP.

Hàng thừa kế thứ nhất được pháp luật quy định thế nào?

Xin hỏi, hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật bao gồm những ai? - Câu hỏi của bạn Hằng Nga (Thái Nguyên).

Bộ Công an nêu chế tài về việc đưa hình ảnh người khác lên mạng xã hội nhằm bôi nhọ

Việc cố tình quay lại các video về đời sống riêng tư của người khác, sau đó chia sẻ các hình ảnh đó nhằm bôi nhọ nhân phẩm, danh dự của họ có thể bị xử lý hình sự.