Tư vấn

Dân sự

Vướng mắc về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của pháp nhân
Vướng mắc về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của pháp nhân
Khi xảy ra hành vi vi phạm trong trường hợp người của pháp nhân gây thiệt hại thì khoản bồi thường sẽ do ai chịu trách nhiệm?

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Theo quy định tại Điều 585 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 về nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như sau:

- Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

- Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình;

- Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường;

- Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra;

- Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.

Quy định về bồi thường thiệt hại theo pháp luật dân sự hiện hành

- Đối với cá nhân: tại Điều 586 BLDS 2015 quy định: “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường”.

- Đối với pháp nhân: tại Điều 597 BLDS 2016 quy định: “Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật”.

Vướng mắc trong trường hợp cụ thể

Anh Nguyễn Văn K., nguyên là giám đốc Logistic của Công ty P. Anh K. nộp đơn từ chức vào ngày 11/3/2024, ngày cuối cùng làm việc tại công ty là ngày 10/4/2024. Tuy nhiên, trong thời gian bàn giao công việc từ ngày 15/3/2024 đến ngày 04/4/2024, anh K đã dùng wifi công ty P. và máy tính cá nhân để sử dụng phần mềm M. bất hợp pháp (phần mềm bẻ khoá, không trả phí bản quyền), dùng cho mục đích cá nhân, không phục vụ cho công việc. Công ty P. không yêu cầu anh K. cài đặt phần mềm này.

Phần mềm M. thuộc sở hữu Công ty A. đã được đăng ký bản quyền phần mềm máy tính tại Cục Bản quyền tác giả. Bằng việc đăng nhập wifi công ty để sử dụng phần mềm, công ty A. đã có bằng chứng chứng minh việc sử dụng phần mềm bất hợp pháp của anh K. tại công ty P. trong giờ làm việc. Vì vậy, Công ty A. yêu cầu Công ty P. phải bồi thường một khoản phí lên đến 200.000.000 đồng với lí do: “thất bại trong nhiệm vụ giám sát và ngăn chặn hành vi sai trái của nhân viên".

Hiện tại, pháp luật dân sự hiện hành chỉ quy định căn cứ bồi thường thiệt hại trong trường hợp người của pháp nhân gây ra khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao. Do đó, về vụ việc trên tồn tại những quan điểm khác nhau về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của công ty P. như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Công ty P. có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho Công ty A. Bởi lẽ, hành vi vi phạm bản quyền phần mềm phát sinh do lỗi của anh K. Mặc dù anh K. đang trong thời gian bàn giao công việc nhưng chưa có quyết định chấm dứt hợp đồng lao động thì vẫn là nhân viên của công ty. Công ty P. có trách nhiệm quản lý K. trong thời gian làm việc. Do đó, khi phát sinh hành vi trái pháp luật của K., dù không phải do Công ty P. giao cho anh K. nhưng K. thực hiện hành vi tại thời điểm chịu sự quản lý của Công ty P. nên Công ty P. vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Và sau đó, có thể yêu cầu anh K. hoàn trả một phần khoản bồi thường theo quy định của pháp luật hoặc theo Điều lệ của pháp nhân.

Quan điểm thứ hai cũng là quan điểm của tác giả: Công ty P. không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của Công ty A.

Để có thể xác định được trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về Công ty P. thì anh K. – người gây thiệt hại cần đáp ứng đủ 03 điều kiện sau:

- Người gây ra thiệt hại là người của pháp nhân;

- Nơi công ty người gây thiệt hại làm việc phải có tư cách pháp nhân;

- Trong lúc người gây ra thiệt hại thì họ đang thực hiện công việc được pháp nhân giao cho.

Tuy nhiên, trong trường hợp này, anh K. gây thiệt hại trong giờ làm việc nhưng không phải thực hiện nhiệm vụ mà pháp nhân giao cho mà phục vụ cho mục đích cá nhân. Vì vậy, sẽ không thể áp dụng trường hợp quy định tại Điều 597 BLDS 2015 để làm căn cứ bồi thường thiệt hại. Anh K. sẽ phải tự mình chịu trách nhiệm bồi thường cho công ty A. theo quy định tại khoản 1 Điều 586 BLDS 2015.

Như vậy, nếu xem xét từng điều kiện để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về cá nhân hay Công ty thì rõ ràng Công ty không phải chịu trách nhiệm bồi thường. Nhưng đối với vấn đề không giám sát, không ngăn chặn hành vi sai phạm của nhân viên thì Công ty vẫn phải chịu một phần trách nhiệm, có thể là hỗ trợ bồi thường 01 phần theo yêu cầu của công ty A.

Trên đây là quan điểm của tác giả về trường hợp này, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ quý đồng nghiệp và bạn đọc.

Theo Phạm Minh Đô - Tòa án Quân sự Quân khu 7

ĐỌC THÊM

Cho vay nợ nhưng không có giấy ghi nợ thì có đòi được không?

Việc giữ người quen cho vay tiền vì tin tưởng dẫn tới việc không có giấy ghi nợ diễn ra rất phổ biến. Vì thế, khi tranh chấp xảy ra, rất nhiều người lo lắng liệu có đòi lại được tiền hay không.

Tài xế xe công nghệ gây tai nạn thì trách nhiệm bồi thường thuộc về ai?

Trường hợp tài xế xe công nghệ gây ra tai nạn thì người bồi thường là tài xế hay công ty?

Mã bảo hiểm xã hội là gì? Mã bảo hiểm xã hội có phải là số sổ bảo hiểm xã hội không?

Bài viết sẽ giúp chúng ta trả lời các câu hỏi: Mã số bảo hiểm xã hội là gì? Mã bảo hiểm xã hội có phải là số sổ bảo hiểm xã hội không? Người lao động có 2 sổ bảo hiểm xã hội cần...

Các nguyên tắc giao rừng

Nhà nước giao rừng cho một số đối tượng cùng tham gia quản lý, sản xuất, khai thác rừng trong giới hạn luật định. Việc giao rừng phải dựa trên những nguyên tắc gì, cùng tham khảo bài viết dưới đây.

Tính chất đền bù của hợp đồng Dân sự theo quy định của pháp luật

Tính chất đền bù lợi ích được coi là một trong những đặc trưng cơ bản của quan hệ pháp luật Dân sự. Tính chất đền bù đó được thể hiện một cách rõ nét nhất trong chế định hợp đồng Dân sự.

Pháp nhân có năng lực hành vi dân sự không?

Một trong các vấn đề liên quan đến pháp nhân được nhiều người quan tâm là pháp nhân có năng lực hành vi dân sự không? Cùng theo dõi bài viết này để tìm ra câu trả lời nhé.

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng - Thực trạng và giải pháp

Trong phạm vi bài viết, nhóm tác giả phân tích thực trạng của hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng, nêu ra các hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành và đề ra các giải pháp hoàn thiện.

Quyền rút bảo hiểm xã hội?

Cuộc tranh luận trên các phương tiện truyền thông và các cuộc họp lấy ý kiến liên quan đến dự thảo luật bảo hiểm xã hội (BHXH) cho thấy vấn đề không chỉ xoay quanh việc rút bảo hiểm một lần, mà còn bộc lộ...

Thế nào là tố cáo? Tố cáo nhằm mục đích gì?

Tố cáo là một hành động không quá xa lạ. Vậy, pháp luật quy định về hành vi này như thế nào và mục đích việc tố cáo là gì? Chúng ta cùng tìm hiểu qua bài viết sau.

Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là gì? Các quy định theo BLDS 2015

Biện pháp dân sự có tính chất tài sản do các bên tự nguyện cam kết, thỏa thuận hoặc pháp luật quy định khi xác lập giao dịch dân sự. Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nhằm buộc người có nghĩa vụ...

Những phán quyết trọng tài thương mại nào được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam?

Những phán quyết nào của trọng tài thương mại được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam? Ai có quyền yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết Trọng tài thương mại?

Chung cư mi ni và các vấn đề pháp lý

Bài viết làm rõ về cơ sở pháp lý của việc hình thành, tạo dựng đối với loại hình chung cư mi ni tại thời điểm này để phần nào giúp người dân đang sở hữu các căn hộ này có sự yên tâm nhất...

Hợp đồng giả cách có giá trị pháp lý hay không

Trong thời gian qua, thực tế phát sinh nhiều trường hợp người muốn vay tiền và để được cho vay, họ làm “hợp đồng giả cách” chuyển nhượng quyền sử dụng đất, để rồi sau đó đứng trước nguy cơ mất trắng t

Công ty trả tiền thù lao, tiền công, tiền chi khác cho cá nhân không ký hợp đồng lao động thì phải khấu trừ thuế theo mức nào?

Cho tôi hỏi công ty trả tiền thù lao, tiền công, tiền chi khác cho cá nhân không ký hợp đồng lao động thì phải khấu trừ thuế theo mức nào?