Ảnh minh họa (AI)
Trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam, việc phân chia di sản thừa kế theo di chúc luôn được ưu tiên hàng đầu nhằm tôn trọng tối đa nguyện vọng của người để lại tài sản. Tuy nhiên, căn cứ Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015, di sản sẽ được phân chia theo pháp luật trong các trường hợp người chết không để lại di chúc, di chúc không hợp pháp, hoặc người thừa kế theo di chúc đã chết trước hay chết cùng thời điểm với người lập di chúc (hoặc tổ chức hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại). Quy định này cũng áp dụng nếu người được chỉ định trong di chúc không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. Ngoài ra, phần di sản không được định đoạt trong di chúc, phần di sản liên quan đến nội dung di chúc bị vô hiệu, hoặc liên quan đến cá nhân từ chối hay không có quyền nhận di sản cũng sẽ được đưa vào diện phân chia theo pháp luật.
Khi tiến hành chia di sản theo pháp luật, di sản được phân phối dựa trên tự thứ ba hàng thừa kế quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015. Hàng thừa kế thứ nhất bao gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ và con nuôi của người để lại di sản. Hàng thừa kế thứ hai bao gồm ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết và cháu ruột gọi người chết là ông bà. Hàng thừa kế thứ ba bao gồm cụ nội, cụ ngoại, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, cháu ruột gọi người chết là bác, chú, cô, dì và chắt ruột gọi người chết là cụ. Theo nguyên tắc chung, những người thừa kế thuộc cùng một hàng sẽ được hưởng phần di sản có giá trị bằng nhau. Người ở hàng thừa kế sau chỉ được quyền hưởng thừa kế nếu ở hàng trước đó không còn ai do đã chết, không có quyền hưởng, bị truất quyền hoặc đã từ chối nhận di sản.
Về trình tự giải quyết thủ tục, Điều 59 Luật Công chứng 2024 quy định người thừa kế theo pháp luật có quyền yêu cầu công chứng văn bản phân chia di sản tại tổ chức hành nghề công chứng. Người yêu cầu có thể lựa chọn nộp một bộ hồ sơ trực tiếp, trực tuyến hoặc qua dịch vụ bưu chính. Hồ sơ bao gồm dự thảo văn bản giao dịch, giấy tờ tùy thân như thẻ căn cước, hộ chiếu hay giấy tờ xác định nhân thân hợp lệ khác. Cùng với đó, người yêu cầu phải cung cấp giấy chứng tử hoặc giấy tờ chứng minh người để lại di sản đã chết, giấy tờ chứng minh quan hệ thừa kế, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc quyền sở hữu tài sản của người quá cố. Các giấy tờ tùy thân, giấy tờ tài sản có thể sử dụng bản sao giấy, bản sao điện tử hoặc bản chính điện tử theo quy định tại Điều 42 (sửa đổi năm 2026) và Điều 43 Luật Công chứng 2024. Tiếp nhận hồ sơ, công chứng viên tiến hành kiểm tra tính chính xác về quyền sở hữu tài sản của người quá cố cũng như tư cách hưởng thừa kế của người nộp hồ sơ, đồng thời có quyền yêu cầu xác minh hoặc giám định nếu có điểm chưa rõ.
Sau khi vượt qua bước kiểm tra sơ bộ, tổ chức hành nghề công chứng phải tiến hành niêm yết công khai việc tiếp nhận công chứng văn bản phân chia di sản theo đúng quy định. Việc ký công chứng văn bản phân chia di sản hoặc văn bản khai nhận di sản chỉ được thực hiện sau khi kết thúc thời hạn niêm yết mà không phát sinh bất kỳ khiếu nại hay tố cáo nào. Công chứng viên sẽ yêu cầu các bên thừa kế xuất trình bản chính toàn bộ giấy tờ để đối chiếu trực tiếp trước khi ký lời chứng và ký xác nhận vào từng trang văn bản. Văn bản thỏa thuận phân chia di sản đã được công chứng là căn cứ pháp lý bắt buộc để cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện đăng ký chuyển quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản cho người thừa kế. Khi hoàn tất, các bên nộp phí và thù lao công chứng theo quy định tại Thông tư 257/2016/TT-BTC dựa trên tổng giá trị di sản thừa kế để nhận lại bản chính văn bản phân chia di sản.
Nguồn: https://luatvietnam.vn/dan-su/thu-tuc-phan-chia-di-san-thua-ke-theo-phap-luat-568-25449-article.html#google_vignette