Tư vấn

Hình sự

Thẩm quyền kiến nghị khởi tố của Tòa án – Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện
Thẩm quyền kiến nghị khởi tố của Tòa án – Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện
Trong phạm vi bài viết này, các tác giả nêu lên một số vướng mắc và đề xuất hoàn thiện quy định về thẩm quyền kiến nghị khởi tố của Tòa án trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự.

1. Quy định chung về kiến nghị khởi tố

Theo quy định tại khoản 3 Điều 144 BLTTHS năm 2015 thì "Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm".

Về lý luận, cần phân biệt trường hợp nào cơ quan Nhà nước là chủ thể của tin báo về tội phạm và trường hợp nào là chủ thể của kiến nghị khởi tố:

- Cơ quan Nhà nước là chủ thể của kiến nghị khởi tố trong trường hợp thông qua công tác thanh tra, kiểm tra, xét xử… phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm thì thu thập hồ sơ, tài liệu liên quan, kèm theo văn bản kiến nghị khởi tố gởi đến Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp đề nghị khởi tố vụ án.

- Cơ quan Nhà nước là chủ thể của tin báo về tội phạm trong trường hợp thông qua công tác quản lý hoặc công tác khác, phát hiện vi phạm có dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực mình quản lý thì cung cấp thông tin cho cơ quan có thẩm quyền để xem xét, giải quyết.

Theo sự phân tích trên, chúng ta thấy, pháp luật quy định chỉ có cơ quan Nhà nước mới có quyền kiến nghị khởi tố. Từ đó, có thể hiểu: Kiến nghị khởi tố là việc các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức kinh tế... thông qua công tác kiểm tra, thanh tra và khi thực hiện các nhiệm vụ khác phát hiện có dấu hiệu tội phạm và có văn bản kèm theo tài liệu liên quan, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, khởi tố vụ án hình sự, khởi tố đối với người có hành vi phạm tội để điều tra, xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Như vậy, bất kỳ cơ quan nhà nước nào, qua thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm đều có quyền kiến nghị khởi tố. Các cơ quan này có thể là: Tòa án, Cơ quan thanh tra (theo Luật Thanh tra, Thông tư liên tịch số 03/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP-TTCP ngày 18/10/2018 quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Cơ quan Thanh tra trong việc trao đổi thông tin về tội phạm và giải quyết kiến nghị khởi tố được phát hiện thông qua hoạt động thanh tra); Kiểm toán Nhà nước (theo Luật Kiểm toán nhà nước); Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân thông qua hoạt động giám sát (theo Luật Phòng, chống tham nhũng)…

2. Một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng

Theo Điều 143 BLTTHS 2015 quy định về căn cứ khởi tố vụ án hình sự như sau:

Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:

- Tố giác của cá nhân;

- Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

- Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;

- Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;

- Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;

Ngoài ra, tại khoản 1 Điều 155 BLTTHS 2015 được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi BLTTHS 2017 quy định về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại như sau:

“1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 của Bộ luật Hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

Trong thực tiễn, thông thường là văn bản kiến nghị khởi tố của cơ quan Thanh tra, TAND. Đối với Cơ quan Thanh tra, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thanh tra, nếu phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm, thì trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày phát hiện dấu hiệu tội phạm, phải chuyển hồ sơ vụ việc đó và bản kiến nghị khởi tố đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để xem xét khởi tố vụ án hình sự, đồng thời thông báo ngay bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp biết.

Đối với TAND kiến nghị khởi tố được thể hiện bằng văn bản “Yêu cầu khởi tố vụ án” của Hội đồng xét xử. Khoản 4 Điều 153 BLTTHS năm 2015 quy định: “Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên toà mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm”.

Tuy nhiên, hiện nay BLTTHS và các văn bản pháp luật khác chưa có phân biệt rõ ràng giữa Kiến nghị khởi tố và Yêu cầu khởi tố. Tại Điều 144 BLTTHS năm 2015 quy định "Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản …." nhưng khoản 4 Điều 153 BLTTHS năm 2015 lại quy định: “Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên toà mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm”. Như vậy, việc quy định như trên là không thống nhất.

Theo chúng tôi, BLTTHS cần xác định tên gọi chung là Kiến nghị khởi tố đối với các chủ thể là cơ quan Nhà nước, tổ chức, vì đây là văn bản mang tính pháp lý, có tính chất về việc công. Còn đối với cá nhân, khi có ý kiến đề nghị khởi tố thì được gọi là văn bản Yêu cầu khởi tố, điều này phù hợp với quy định về khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại tại Điều 155 BLTTHS năm 2015.

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 280 BLTTHS năm 2015 đối với trường hợp có căn cứ cho rằng ngoài hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố, bị can còn thực hiện hành vi khác mà BLTTHS  quy định là tội phạm thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung và tại khoản 1 Điều 5 Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP  quy định về phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện một số quy định của BLTTHS về trả hồ sơ điều tra bổ sung: 

1. Khi có căn cứ để cho rằng bị can hoặc bị cáo còn thực hiện hành vi khác mà BLHS quy định là tội phạm, còn có đồng phạm khác hoặc có người khác thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can thuộc một trong các trường hợp sau đây thì Thẩm phán (trong giai đoạn chuẩn bị xét xử), Hội đồng xét xử (tại phiên tòa) trả hồ sơ để điều tra bổ sung:

a) Viện kiểm sát truy tố về một hay nhiều tội, nhưng chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy hành vi của bị can hoặc bị cáo đã thực hiện cấu thành một hay nhiều tội khác;

b) Ngoài hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát đã truy tố, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy còn có căn cứ để khởi tố bị can hoặc bị cáo về một hay nhiều tội khác;

c) Ngoài bị can hoặc bị cáo đã bị truy tố, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy còn có người đồng phạm khác hoặc có người phạm tội khác liên quan đến vụ án, nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can.

Hiện nay, thực tiễn áp dụng đối với trường hợp này còn nhiều quan điểm khác nhau. Quan điểm thứ nhất, trong mọi trường hợp có căn cứ cho rằng ngoài hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo còn thực hiện hành vi khác mà BLHS  quy định là tội phạm thì Hội đồng xét xử ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung. Quan điểm thứ hai, trong trường hợp có căn cứ cho rằng ngoài hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo còn thực hiện hành vi khác mà BLHS quy định là tội phạm có liên quan đến tội phạm bị cáo bị xét xử thì Hội đồng xét xử ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung, nếu không có liên quan đến tội phạm bị cáo bị xét xử thì Hội đồng xét xử vẫn tuyên án và kiến nghị Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự.

Các tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai, bỡi lẽ tại Điều 25 BLTTHS 2015 quy định Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai. Nếu bị cáo đã được đưa ra xét xử và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã đủ cơ sở kết án đối với bị cáo thì cần tuyên án để đảm bảo nguyên tắc xét xử kịp thời. Trong trường hợp có căn cứ cho rằng ngoài hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo còn thực hiện hành vi khác mà BLHS  quy định là tội phạm nếu không có liên quan đến tội phạm bị cáo bị xét xử thì Hội đồng xét xử vẫn tuyên án và kiến nghị Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự mà không trả hồ sơ điều tra bổ sung là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật, điều này hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 153 BLTTHS năm 2015.

3. Hướng đề xuất

Quy định tại Điều 153 BLTTHS năm 2015 về thẩm quyền yêu cầu khởi tố vụ án của Hội đồng xét xử cần sửa đổi cho phù hợp như sau: “...Hội đồng xét xử kiến nghị Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm”. Đồng thời, TANDTC cần có văn bản hướng dẫn trường hợp nào Hội đồng xét xử kiến nghị Viện kiểm sát khởi tố vụ án, trường hợp nào trả hồ sơ điều tra bổ sung nếu có việc bỏ lọt tội phạm hoặc có căn cứ cho rằng ngoài hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo còn thực hiện hành vi khác mà BLHS quy định là tội phạm.

*ThS. Tòa án nhân dân Tp Cà Mau, tỉnh Cà Mau

NGUYỄN BÍCH NHƯ, TRƯƠNG THANH QUỐC-tapchitoaan.vn

ĐỌC THÊM

Người làm chứng khai sai sự thật có thể bị phạt 7 năm tù

Lời khai của người làm chứng trong một vụ án có thể là thông tin quan trọng góp phần giải quyết vụ án nhanh chóng. Tuy nhiên, nếu người làm chứng khai không đúng sự thật thì bị xử lý thế nào?

Người đang hưởng án treo có được đi khỏi địa phương không?

Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù khi đáp ứng theo các điều kiện mà pháp luật quy định. Vậy người đang hưởng án treo có được đi khỏi địa phương không? Bài viết sau sẽ giải đáp rõ về vấn...

Tài sản tham nhũng của người phạm tội có được có bị tịch thu không? Tiền từ những vụ án tham nhũng được xử lý như thế nào?

Cho hỏi tài sản tham nhũng của người phạm tội có được có bị tịch thu không? Tiền từ những vụ án tham nhũng được xử lý như thế nào?

Mượn tài sản của người khác mang bán phạm tội gì?

Gian dối là đưa ra thông tin hay hành động không đúng sự thật nhằm đánh lừa người khác để người khác tin đó là sự thật. Thủ đoạn gian dối được thực hiện rất đa dạng có thể qua lời nói, sử dụng...

Tự thú là gì? Tự thú được giảm nhẹ hình phạt như thế nào?

Tự thú là gì? Tự thú được giảm nhẹ hình phạt như thế nào? Là những vấn đề dù được nhắc đến tương đối nhiều nhưng không phải ai cũng nắm rõ.

Nghi ngờ người khác ăn trộm có được lục soát người không?

Nghi ngờ ăn trộm có được lục soát người không? Là câu hỏi được nhiều người đặt ra bởi việc tự ý lục soát người, túi đồ của người khác khi có nghi ngờ về hành vi ăn trộm của họ không phải là hiếm...

Trốn đóng BHXH cho người lao động: Công ty "gánh hậu quả" thế nào?

Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động bị xử lý thế nào?

Chó cắn chết người, chủ nuôi có bị xử lý hình sự?

Thời gian gần đây, số vụ chó tấn công người gây thương tích ngày càng tăng khiến nhiều người hoang mang, lo sợ. Vậy để chó cắn chết người, chủ nuôi bị xử lý thế nào?

Có phải trả nợ khi bị lấy cắp thông tin để vay tiền?

Trong trường hợp bị người khác lấy thẻ căn cước hay căn cước công dân của mình đi vay nợ thì mình có phải trả khoản nợ này không?

Tội ngược đãi cha mẹ có được quy định trong Bộ luật hình sự và bị phạt bao nhiêu năm tù?

Quan hệ gia đình là quan hệ xã hội thiêng liêng được pháp Luật quy định và bảo vệ. Hành vi ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình là một hành vi...

Những điều kiện người nhận bảo lĩnh cần đáp ứng để xin được bảo lĩnh

Bị can, bị cáo khi đang bị tạm giam vẫn có thể được tại ngoại nếu như có người nhận bảo lĩnh cho mình. Vậy người nhận bảo lĩnh phải đáp ứng được những điều kiện gì để xin bảo lĩnh cho bị can, bị...

Cho vay với lãi suất bao nhiêu thì xem là cho vay nặng lãi? Trường hợp nào người cho vay nặng lãi bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Hiện nay, nhiều tổ chức, cá nhân cho vay với lãi suất rất cao. Vậy mức lãi suất cho vay là bao nhiêu là cho vay nặng lãi; trường hợp cho vay nặng lãi sẽ bị xử lý như thế nào?