(ẢNH MINH HỌA AI)
Nhận diện các hình thức lừa dối khách hàng
Theo Điều 198 Bộ luật Hình sự 2015, hành vi lừa dối khách hàng được thể hiện qua nhiều phương thức gian dối trong mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ.
Đầu tiên là thủ đoạn cân, đong, đo, đếm, tính gian. Đây là việc đo lường không chính xác về số lượng, khối lượng, trọng lượng, kích thước thực tế hoặc cố ý tính toán sai đơn giá, tổng số tiền thanh toán nhằm gây thiệt hại cho người mua.
Thứ hai là hành vi đánh tráo hàng hóa. Người bán thực hiện việc bàn giao sản phẩm không đúng chủng loại, chất lượng, thông số kỹ thuật hoặc mẫu mã theo thỏa thuận hay đơn đặt hàng ban đầu.
Thứ ba là các chiêu trò gian dối khác nhằm khiến khách hàng bị nhầm lẫn, tin rằng mình đã nhận đúng mặt hàng và chất lượng như cam kết. Các hành vi này trực tiếp xâm phạm quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng và làm ảnh hưởng xấu đến uy tín thương mại.
Điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự và xử phạt hành chính
Căn cứ khoản 1 Điều 198 Bộ luật Hình sự 2015, người thực hiện hành vi gian dối chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thuộc một trong các trường hợp sau. Một là đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi lừa dối khách hàng mà vẫn vi phạm. Hai là đã bị kết án về tội danh này, chưa được xóa án tích mà còn tiếp tục thực hiện. Ba là thu lợi bất chính từ 5.000.000 đồng trở lên.
Khoản tiền thu lợi bất chính được hiểu là lợi ích thực tế thu được từ hành vi gian dối, không đồng nhất với tổng doanh thu hay tổng giá trị hàng hóa đã bán. Cơ quan tiến hành tố tụng sẽ căn cứ vào hồ sơ, chứng từ và các khoản chi phí hợp lý để xác định chính xác. Trường hợp chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm hình sự, người vi phạm sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính, thu hồi tang vật, tịch thu số tiền vi phạm và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả.
Chi tiết các khung hình phạt đối với Tội lừa dối khách hàng
Theo Điều 198 Bộ luật Hình sự 2015, các khung hình phạt được áp dụng cụ thể như sau:
Khung hình phạt cơ bản quy định mức phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm. Khung này áp dụng cho trường hợp thu lợi bất chính từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, hoặc người vi phạm đã từng bị xử phạt hành chính/kết án về tội này nhưng chưa được xóa án tích.
Khung hình phạt tăng nặng quy định mức phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Khung này áp dụng khi hành vi phạm tội có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, dùng thủ đoạn xảo quyệt, hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng trở lên.
Hình phạt bổ sung có thể được áp dụng tùy tính chất vi phạm, bao gồm phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, đồng thời cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Ranh giới phân biệt với Tội sản xuất, buôn bán hàng giả
Không phải mọi trường hợp cung cấp thông tin sai sự thật đều bị xử lý về Tội sản xuất, buôn bán hàng giả. Căn cứ khoản 7 Điều 3 Nghị định 98/2020/NĐ-CP, hàng hóa chỉ bị xác định là hàng giả khi thuộc một trong các căn cứ pháp lý rõ ràng.
Hàng giả về giá trị sử dụng, công dụng là hàng hóa không có giá trị sử dụng/công dụng hoặc có giá trị sử dụng/công dụng không đúng bản chất tự nhiên, nguồn gốc, tên gọi. Hàng giả về chất lượng là hàng hóa có ít nhất một chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật cốt lõi chỉ đạt từ 70% trở xuống so với mức tối thiểu quy định tại tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký. Hàng giả cũng có thể do giả mạo thông tin nhãn mác, bao bì (ghi chỉ dẫn giả tên, địa chỉ nhà sản xuất, phân phối), giả mạo mã số đăng ký, mã số lưu hành, bao bì của tổ chức khác, hoặc giả mạo nguồn gốc, xuất xứ, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp.
Trường hợp hàng giả thuộc nhóm lương thực, thực phẩm hoặc phụ gia thực phẩm, người vi phạm sẽ bị xử lý theo Điều 193 Bộ luật Hình sự. Mức phạt tù gồm các khung: khung cơ bản từ 02 năm đến 05 năm; khung tăng nặng thứ nhất từ 05 năm đến 10 năm; khung tăng nặng thứ hai từ 10 năm đến 15 năm; khung đặc biệt nghiêm trọng từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ/hành nghề từ 01 năm đến 05 năm, hoặc tịch thu một phần/toàn bộ tài sản. Pháp nhân thương mại vi phạm có thể bị phạt tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Để xử lý theo Điều 193, cơ quan thẩm quyền bắt buộc phải chứng minh hàng hóa là hàng giả qua kết quả giám định. Trường hợp việc quảng cáo hay giới thiệu sai lệch làm khách hàng nhầm lẫn nhưng sản phẩm không đủ căn cứ xác định là hàng giả thì chỉ xem xét theo Điều 198 về Tội lừa dối khách hàng hoặc xử phạt hành chính. Cơ quan tố tụng sẽ căn cứ mục đích, phương thức, bản chất tang vật và hậu quả để định tội, không áp dụng đồng thời cả hai tội danh nếu không đủ yếu tố cấu thành riêng biệt.
Nguồn: https://luatvietnam.vn/linh-vuc-khac/toi-lua-doi-khach-hang-883-90852-article.html