Giám định tư pháp là việc cá nhân, tổ chức giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định theo quy định của Luật Luật Giám định tư pháp.
Luật số 13/2012/QH13 của Quốc hội: Luật Giám định tư pháp ban hành ngày 20/06/2012 sửa đổi bổ sung năm 2020 đã quy định cụ thể các tổ chức giám định tư pháp. Trong đó, phân chia thành hai nhóm: các tổ chức giám định tư pháp công lập và các tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập. Cụ thể như sau:
-
Tổ chức giám định tư pháp công lập
Theo Điều 12 Luật Giám định tư pháp 2012 quy định Tổ chức giám định tư pháp công lập được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập trong lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần và kỹ thuật hình sự. Trong trường hợp cần thiết, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định thành lập hoặc trình cơ quan có thẩm quyền thành lập tổ chức giám định tư pháp công lập trong các lĩnh vực khác sau khi thống nhất ý kiến với Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Tổ chức giám định tư pháp công lập có con dấu và tài khoản riêng theo quy định của pháp luật. Chính phủ quy định chi tiết chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, chế độ làm việc của tổ chức giám định tư pháp công lập quy định tại khoản 2, khoản 3, các điểm a, b và c khoản 4 Điều 12 Luật Giám định tư pháp 2012.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Phòng giám định kỹ thuật hình sự thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn.
Trong đó, các tổ chức giám định tư pháp công lập được phân chia theo lĩnh vực:
1.1. Tổ chức giám định tư pháp công lập về pháp y:
a) Viện pháp y quốc gia thuộc Bộ Y tế;
b) Trung tâm pháp y cấp tỉnh;
c) Viện pháp y quân đội thuộc Bộ Quốc phòng;
d) Trung tâm giám định pháp y thuộc Viện khoa học hình sự, Bộ Công an.
1.2. Tổ chức giám định tư pháp công lập về pháp y tâm thần:
a) Viện pháp y tâm thần trung ương thuộc Bộ Y tế;
b) Trung tâm pháp y tâm thần khu vực thuộc Bộ Y tế.
Căn cứ yêu cầu giám định pháp y tâm thần của hoạt động tố tụng và điều kiện thực tế của các khu vực, vùng miền trong cả nước, Bộ trưởng Bộ Y tế xem xét, quyết định thành lập Trung tâm pháp y tâm thần khu vực sau khi thống nhất ý kiến với Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
1.3. Tổ chức giám định tư pháp công lập về kỹ thuật hình sự:
a) Viện khoa học hình sự thuộc Bộ Công an;
b) Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an cấp tỉnh;
c) Phòng giám định kỹ thuật hình sự thuộc Bộ Quốc phòng;
d) Phòng giám định kỹ thuật hình sự thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
1.4. Phòng giám định kỹ thuật hình sự thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện giám định về âm thanh, hình ảnh từ các dữ liệu điện tử. Căn cứ vào nhu cầu và điều kiện thực tế của địa phương, Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an cấp tỉnh có giám định viên pháp y thực hiện giám định pháp y tử thi.
-
Tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập
Theo Điều 14 Luật Giám định tư pháp 2012 xác định tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập là văn phòng giám định tư pháp.
Văn phòng giám định tư pháp được thành lập trong các lĩnh vực: tài chính, ngân hàng, xây dựng, cổ vật, di vật, bản quyền tác giả.
Văn phòng giám định tư pháp do 01 giám định viên tư pháp thành lập thì được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân. Văn phòng giám định tư pháp do 02 giám định viên tư pháp trở lên thành lập thì được tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh.
Người đại diện theo pháp luật của Văn phòng giám định tư pháp là Trưởng văn phòng. Trưởng văn phòng giám định tư pháp phải là giám định viên tư pháp.
Như vậy, các Tổ chức giám định tư pháp ở Việt Nam hiện nay gồm hai nhóm chính là Tổ chức giám định tư pháp công lập và ngoài công lập.